Một số điểm mới của Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT ngày 26/2/2026 ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân
Ngày 26/02/2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) ban hành Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ (VBCC) của hệ thống giáo dục quốc dân, có hiệu lực thi hành từ ngày15/4/2026 (thay thế Thông tư số 21/2019/TT-BGDĐT ngày 29/11/2019 của Bộ trưởng Bộ GDĐT ban hành Quy chế quản lý bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm, bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, văn bằng giáo dục đại học và chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân và một số văn bản khác).
Quy chế VBCC của hệ thống giáo dục quốc dân có 23 điều, với nội dung các điều khoản được quy định theo hướng ngắn gọn, bao quát hơn nhưng rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm hơn. Một số điểm mới của Quy chế, gồm:
1. Quy định chi tiết nội dung Luật giao về quản lý văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân; bảo đảm thống nhất, đồng bộ với những nội dung mới quy định về VBCC tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục số 123/2025/QH15, Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 đã được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10, như: thay việc cấp bằng tốt nghiệp THCS bằng xác nhận hoàn thành chương trình THCS trong học bạ, giao hiệu trưởng nhà trường cấp bằng tốt nghiệp THPT, bổ sung bằng trung học nghề; bổ sung hình thức văn bằng số, chứng chỉ số … Quy chế cũng bổ sung phạm vi, đối tượng điều chỉnh bao gồm VBCC của giáo dục nghề nghiệp.
Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế VBCC của hệ thống giáo dục quốc dân đã thay thế toàn bộ các quy định về VBCC được quy định rải rác ở nhiều văn bản của Bộ GDĐT, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội trước đây, giúp cơ sở giáo dục, người làm công tác quản lý giáo dục, người học … thuận tiện trong nghiên cứu, thực hiện.
2. Đẩy mạnh chuyển đổi số, thúc đẩy quản trị giáo dục thông minh, chuyên nghiệp
Nội dung quy định tại Quy chế đã thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số toàn diện trong GDĐT, cụ thể trong công tác quản lý VBCC:
Quy chế bổ sung khái niệm VBCC số (Điều 2); việc cấp, lưu trữ, xử lý VBCC số (Điều 3, 7, 11, 19, 20); cấp bản sao, chỉnh sửa, thu hồi, hủy bỏ... đối với VBCC số (Điều 14, 15, 16, 17, 18); quy định cách thức xây dựng, cập nhật thông tin lên cơ sở dữ liệu (CSDL) về VBCC; khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu về VBCC (Điều 19); bổ sung quy định Danh mục các trường thông tin chính cần cập nhật trên cơ sở dữ liệu về VBCC tại Phụ lục V Thông tư để củng cố cơ sở pháp lý triển khai VBCC số.
Quy chế quy định về CSDLVBCC và quy định các chủ thể liên quan có trách nhiệm cập nhật CSDL khi thực hiện các hoạt động nghiệp vụ trong công tác quản lý VBCC. Yêu cầu này để bảo đảm triển khai cấp văn bằng số, chứng chỉ số thay thế dần việc cấp văn bằng giấy, chứng chỉ giấy, theo đó các nội dung quy định gồm: Bộ GDĐT xây dựng cơ sở dữ liệu về VBCC để sử dụng chung trong toàn quốc. Cơ sở dữ liệu về VBCC phục vụ cho việc cấp VBCC số; lưu trữ dữ liệu VBCC đã cấp cho người học và công khai thông tin về cấp VBCC (khoản 1 Điều 19). Quy định này hướng đến xây dựng, duy trì một CSDL quy mô, ổn định, tập trung, dùng chung cho toàn ngành để bảo đảm thống nhất, thuận tiện cho các đơn vị có thẩm quyền cấp VBCC trên toàn quốc sử dụng chung, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhu cầu tra cứu, xác minh hoặc sử dụng để thực hiện các thủ tục hành chính khác theo hình thức dịch vụ công trực tuyến. Quy định này cũng giúp tiết kiệm kinh phí đầu tư phần mềm, CSDL riêng, nhân lực quản trị của các cơ quan có thẩm quyền cấp VBCC.
Quy chế quy định việc cập nhật CSDL quản lý VBCC và công bố công khai thông tin về cấp, chỉnh sửa, thu hồi, hủy bỏ VBCC trên cổng thông tin điện tử được thực hiện đối với cả VBCC đã được cấp trước ngày Thông tư có hiệu lực thi hành (khoản 2 Điều 19). Quy định này là cần thiết nhằm thực hiện chủ trương của Đảng, Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23/7/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện.
Cùng với những quy định tại Điều 19, Quy chế còn có những quy định về CSDL VBCC: Quy định tại khoản 6 Điều 2: “6. Thông tin trích xuất từ cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ có giá trị pháp lý như thông tin trong sổ gốc cấp văn bằng, chứng chỉ và có giá trị xác minh văn bằng, chứng chỉ.” Quy định này nhằm bảo đảm cụ thể hóa chủ trương chuyển đổi số toàn diện trong lĩnh vực giáo dục, đồng thời giảm áp lực, chi phí xã hội về giấy tờ, bản sao đối với người có VBCC, giảm áp lực cho việc xác minh và trả lời xác minh VBCC bằng văn bản giấy. Quy định tại một số điều khoản khác (khoản 5 Điều 3, khoản 5 Điều 5, khoản 7 Điều 13, khoản 4 Điều 14, khoản 4 Điều 15, khoản 3 Điều 16) về trách nhiệm cập nhật CSDL khi cấp, cấp lại, chỉnh sửa, thu hồi hủy bỏ VBCC nhằm bảo đảm nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, chia sẻ, dùng chung” của CSDL. Thông tin tra cứu từ CSDL về VBCC hoặc hiển thị trên ứng dụng VNeID được sử dụng thay cho bản sao VBCC từ sổ gốc và có giá trị xác minh văn bằng, chứng chỉ thay cho việc cơ quan quản lý sổ gốc xác minh văn bằng, chứng chỉ bằng văn bản (Điều 21).
Ngoài ra, toàn bộ các điều trong Quy chế đã được quy định theo hướng để đẩy mạnh áp dụng công nghệ, chuyển đổi số trong công tác quản lý VBCC; thực hiện triển khai VBCC số đồng bộ, đồng thời với cấp VBCC giấy, bảo đảm triển khai quyết liệt, khẩn trương các chỉ đạo của Đảng, của Chính phủ về thực hiện chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
3. Đơn giản hoá thủ tục hành chính (TTHC), giấy tờ công dân, cắt giảm chi phí tuân thủ TTHC, giảm chi phí xã hội trong việc cấp, cấp lại, chỉnh sửa, cấp bản sao VBCC từ sổ gốc
Thời hạn cấp bằng tốt nghiệp THPT (giấy) giảm từ 75 ngày kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp xuống còn 30 ngày; thời hạn cấp VBCC số được xác định là 05 ngày kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp (Điều 11).
Các nội dung quy định liên quan đến thủ tục hành chính (Điều 14, 15, 16, 17, 20) được quy định theo hướng cắt giảm các giấy tờ minh chứng, thay thế bằng việc khai thác, chia sẻ thông tin từ CSDL liên quan khác để phục vụ công tác tiếp nhận và giải quyết TTHC.
Theo quy định tại Quy chế, các thủ tục chỉnh sửa VBCC, cấp bản sao VBCC từ sổ gốc và cấp lại VBCC do Sở GDĐT hoặc cơ sở giáo dục (giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học) thực hiện. Trình tự thực hiện được quy định cụ thể các bước theo thứ tự về thời gian, phân định rõ trách nhiệm và nội dung công việc của cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện. Cách thức thực hiện được quy định đa dạng về cách thức nộp hồ sơ và nhận kết quả; ưu tiên việc giải quyết TTHC trên môi trường điện tử; không yêu cầu người có VBCC cung cấp các thành phần hồ sơ đã có trong Cổng dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết TTHC cấp bộ, cấp tỉnh, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành do cơ quan nhà nước quản lý được chia sẻ, khai thác theo quy định của pháp luật.
4. Phân cấp, tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục trong công tác quản lý VBCC gắn với sự quản lý của cơ quan nhà nước, sự giám sát của xã hội và của người học
Nội dung quy định tại Quy chế đã thể chế hóa chủ trương tại Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển GDĐT về tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục gắn với kiểm tra, giám sát hiệu quả.
Các quy định tại Quy chế quán triệt quan điểm phân cấp để quản trị hiện đại, xử lý kịp thời các vấn đề của địa phương, cơ sở; các chủ thể có thẩm quyền cấp VBCC chủ động tổ chức thực hiện theo thẩm quyền, chức trách được giao tại văn bản pháp luật và chịu trách nhiệm giải trình; cơ quan quản lý nhà nước tăng cường công tác kiểm tra, giám sát.
Quy chế xác định rõ nội dung và phạm vi quản lý về công tác VBCC của Bộ GDĐT, Sở GDĐT, cơ sở giáo dục; phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan. Trong đó, Bộ GDĐT tập trung ban hành quy định, quản lý theo quy định của pháp luật, không làm trực tiếp, không làm thay địa phương, cơ sở. Các chủ thể có thẩm quyền cấp VBCC chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện theo thẩm quyền, nhiệm vụ được giao tại Quy chế. Cụ thể:
- Bỏ nội dung quy định về in phôi bằng tốt nghiệp, chứng chỉ của Bộ GDĐT (Điều 9, 10, 11, 12, 14 Quy chế kèm theo Thông tư số 21/2019/TT-BGDĐT), phân cấp cho Sở GDĐT hoặc giao cơ quan có thẩm quyền cấp VBCC (đối với VBCC giấy).
- Tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với đề cao trách nhiệm người có thẩm quyền cấp VBCC (Điều 5, 7, 10, 11, 18, 21).
- Không quy định mẫu văn bằng của giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp (chỉ quy định nội dung chính ghi trên văn bằng), không quy định mẫu chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân (chỉ quy định nội dung chính ghi trên chứng chỉ) để đồng bộ yêu cầu giữa VBCC số và VBCC giấy (trừ việc vẫn quy định mẫu bằng tốt nghiệp THPT để thực hiện thống nhất trong toàn quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở thực hiện chương trình giáo dục THPT) - Điều 9. Không quy định mẫu sổ gốc cấp bằng, phụ lục sổ gốc cấp bằng, sổ cấp bản sao từ sổ gốc…, chỉ quy định nội dung chính ghi trên các sổ này nhằm tăng tính tự chủ cho các cơ quan có thẩm quyền cấp VBCC trong quản lý VBCC (Điều 7, 11, 18).
5. Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn khi triển khai công tác quản lý VBCC
Nhiều vấn đề vướng mắc, bất cập trong thực tiễn triển khai công tác quản lý VBCC thời gian qua được tổng hợp, nghiên cứu kỹ lưỡng để bổ sung, điều chỉnh các quy định tại Quy chế hiện hành, bảo đảm thực hiện quyết nghị của Chính phủ về việc công tác xây dựng pháp luật cần quán triệt tinh thần tăng cường bám sát thực tiễn, tôn trọng thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn, bảo đảm hợp lý, khả thi và thực hiện nguyên tắc ưu tiên tối đa bảo đảm quyền lợi của người học: Bổ sung quy định giao cấp phó ký VBCC; giao quyền ký bản sao VBCC- để giảm tải việc ký VBCC giấy cho người đứng đầu, quy định các trường hợp đặc biệt khi cấp bản sao từ sổ gốc, cấp lại, chỉnh sửa nội dung, thu hồi hủy bỏ VBCC (khi không có sổ gốc, khi không có người có thẩm quyền theo quy định tại Thông tư, khi sáp nhập, chia tách, giải thể cơ quan có thẩm quyền...); việc giải quyết những vấn đề tồn đọng liên quan đến bằng tốt nghiệp THCS do Sở GDĐT xử lý, UBND cấp xã bàn giao sổ gốc cấp bằng và tài liệu liên quan về Sở GDĐT trước ngày 31/5/2026.
Chi tiết Thông tại xem tại >>> Đây
Cục Quản lý chất lượng
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn